|
Yếu tố địa chính trị - quân sự rất đặc biệt của vùng đất Khánh Hòa
TS. Nguyễn Thị Kim Hoa*,
ThS. Nguyễn Văn Tuấn**
Từ xưa, xứ Kauthara đã là một trong những trung tâm quan trọng về chính trị, quân sự, kinh tế và văn hóa của vương quốc Champa. Dưới thời chúa Nguyễn, dinh Thái Khang được nhìn nhận là vùng đất quan trọng trong hành trình về phương Nam. Địa bàn chiến lược này đã trở thành nơi tranh chấp giữa quân các chúa Nguyễn và quân Tây Sơn. Thành Diên Khánh được xây dựng năm 1793 là minh chứng cho thấy tầm quan trọng của vùng đất Khánh Hòa.
Sách Đại Nam nhất thống chí viết: “Phía đông giáp biển cả, phía tây nắm sơn man, phía nam liền Bình Thuận, phía bắc giáp Phú Yên. Ba mặt núi bọc, một mặt sát biển, núi Đại An chắn ngang ở phía bắc, vụng Nha Trang quanh phía đông, phía Tây Nam núi gò trùng điệp, nhân địa lợi mà xây thành chốn hiểm trở do trời đặt. Núi cao thì có Tam Phong và Đại An, sông lớn thì có Vĩnh An và Phú Lộc, núi khe quanh quất, đường sá gập ghềnh. Các bảo Nha Trang, Bình Nguyên khống chế sơn man, các tấn Cù Huân lớn nhỏ, phòng ngăn hải phỉ. Thật là đất hình thể trọng yếu ở một phương”.[1]
Về mặt chiến lược, Khánh Hòa ở vào một địa thế quan trọng vì có ngã ba của trục giao thông huyết mạch quốc lộ 1 giao với quốc lộ 21 (nay là quốc lộ 26) đi Nam Tây Nguyên. Thực dân Pháp xâm lược đã cố gắng thiết lập ở đây các cơ sở chỉ huy, các viện nghiên cứu, và kể cả các trung tâm huấn luyện quân sự.
Sau năm 1954, Khánh Hòa trở thành địa bàn quan trọng của Mĩ và Chính quyền Sài Gòn. Trong bản phúc trình đặc biệt của viên chỉ huy trưởng Trường Hạ sĩ quan quân đội Việt Nam Cộng hòa trình Tổng thống, số 0412/THSQ/P3/HQ ngày 10/11/1962 đã đánh giá: Hình thể đất đai của tỉnh Khánh Hòa rất thuận lợi cho bộ binh... Chiến xa có thể hoạt động trên các trục giao thông trên bản đồ. Đường thủy trong hải phận Khánh Hòa rất tốt vì nhiều vịnh như: Cam Ranh - Dayol - Vũng Rô - Ba Ngòi - Cầu Đá. Các bãi biển rất tốt có thể sử dụng cho các tàu đổ bộ cỡ nhỏ (LCM và LCU). Đối với không quân, ngoài phi trường Nha Trang còn có phi trường Trại Cá đã được tu bổ để phi cơ chiến đấu hạ cánh. Lục quân có thể nhảy dù xuống Khánh Hòa bất cứ vùng nào. Vì dọc theo quốc lộ 1 có rất nhiều đồng bằng, bãi cát.[2]
Vì lẽ đó, Khánh Hòa trở thành nơi đồn trú của các cơ quan đầu não Vùng II chiến thuật, là căn cứ hậu cần cho Nam Tây Nguyên, là nơi huấn luyện đào tạo sĩ quan,... Quân cảng Cam Ranh, đường số 1, đường số 21, sân bay Nha Trang… là những vị trí chiến lược[3]. Trong âm mưu xâm lược nước ta, đế quốc thực dân luôn coi Nha Trang là một vị trí hết sức quan trọng về mặt quân sự, chính trị, liên quan đến các tỉnh khác trong khu vực Nam Trung Bộ.

Ảnh: Hai tàu vận tải cỡ lớn của Mỹ cập cảng Cam Ranh vào tháng 8/1965. Trong những năm 1955-1975, đây là quân cảng mang tầm chiến lược của Hải quân Mỹ (Nguồn: Lịch sử Hải quân Mỹ).

Ảnh: Một phần căn cứ không quân thuộc hạm đội Thái Bình Dương của Liên Xô đóng tại Cam Ranh những năm đầu thập niên 80, thế kỷ XX.
Với hình thể núi bao bọc ba phía, tạo thành một vòng cung lớn, lồi về phía Tây, lõm về phía Đông ôm lấy hai cánh đồng duyên hải nhỏ, hẹp. Trong hai cuộc kháng chiến, quân dân Khánh Hòa đã xây dựng chuỗi căn cứ địa tạo thế gọng kìm bao vây đồng bằng và trung tâm Nha Trang, biến những nơi này thành địa bàn đóng quân của ta như: Căn cứ Đá Đen - Đồng Trăng (1946), Căn cứ Hòn Hèo (1946), Căn cứ Đá Bàn (mật danh 148 - 1950), Đồng Bò (1950), căn cứ địa Tô Hạp (Khánh Sơn - 3/1959) tạo nên hệ thống liên hoàn bao vây kẻ thù. Chính quyền Sài Gòn cũng nắm rất rõ việc này[4] và ra sức khống chế.

Ảnh: Căn cứ Đồng Bò (Nguồn: Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Khánh Hoà).
Vị trí giao nhau của các trục giao thông Đông - Tây, Nam - Bắc nên Khánh Hòa là địa bàn chiến lược quan trọng trong lịch sử và hiện tại.
Trong kháng chiến, lực lượng cách mạng bám trụ các vùng đồng bằng ven núi và trong các khu căn cứ. Các khu căn cứ liên thông nhau bằng đường giao liên (đường mòn Hồ Chí Minh), đồng thời kết nối bí mật và khéo léo với các vùng giải phóng, vùng căn cứ của tỉnh lân cận tạo thành hệ thống hành lang chiến lược như từ Mdrack dựa theo quốc lộ 21 rẽ vào buôn Malia ở km45 để xuống vùng Thạch Bàn - Khánh Vĩnh - Diên Khánh; từ buôn Rê-Hê tỉnh Đắc Lắc và một con đường mòn từ tỉnh Lâm Đồng theo đường mòn xuống Thạch Trại và phân tán trong quận Diên Khánh và Vĩnh Xương; và một đường mòn từ Dakon, quận Dran tỉnh Lâm Đồng xuyên qua ranh giới tỉnh Ninh Thuận đổ xuống vùng Tô Hạp - Ba Ly qua Cù Hin hay Đồng Bò. Sự kết nối an toàn này đảm bảo cho quá trình liên lạc giữa các địa bàn được thông suốt, hành lang Bắc - Nam được đảm bảo. Đây còn là điều kiện thuận lợi để các nhà lãnh đạo, các cơ sở Đảng, các đơn vị quân đội của tỉnh, của quân khu dễ dàng di chuyển vị trí công tác hoặc chỉ đạo chiến lược chiến tranh.
Trong chiến lược an ninh quốc gia hiện nay, do nằm sát một vòng cung lồi lục địa vươn ra biển khơi, vùng bờ Khánh Hòa có chức năng quan trọng và điều kiện rất thuận lợi đối với phòng thủ, đảm bảo an ninh chủ quyền và lợi ích quốc gia trên Biển Đông, đặc biệt là đối với quần đảo Trường Sa. Địa hình vùng bờ với hệ thống vịnh, đảo, các mũi nhô, đỉnh cao trên đảo và cả trên bờ giúp Khánh Hòa trở thành vành đai cảnh giới, kiểm soát và bảo vệ vững chắc một phần trọng yếu vùng đất liền, biển khơi và vùng trời của phía đông Nam Tây Nguyên. Đó là một mối quan hệ tương hỗ và gắn kết chặt chẽ giữa Tây Nguyên và vùng bờ Khánh Hòa về vị thế địa chính trị.[5]
***
Trong không gian phát triển của Nam miền Trung và Việt Nam, Khánh Hòa có vị trí và vai trò to lớn về địa quân sự - chính trị, địa kinh tế và địa văn hóa. Điểm nổi bật của Khánh Hòa là trung tâm kết nối Đông Nam Á lục địa với hải đảo; có các tuyến đường hàng hải quốc tế; có một hậu phương rộng lớn là Tây Nguyên, cửa ngõ thông thương phía Đông của các nước vùng sông Mê Kông… Trong các thời kỳ lịch sử, nhân dân Khánh Hòa đã phát huy được các yếu tố địa lợi ấy để phát triển kinh tế, văn hóa, chống kẻ thù xâm lược.
Để phát huy vai trò là bản lề, trung tâm kết nối, hậu phương trực tiếp vững chắc cho các nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và thực thi chủ quyền trên biển, qua đó hiện thực hóa những mục tiêu của Nghị quyết 09-NQ/TW về xây dựng, phát triển tỉnh Khánh Hòa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, cần quản lý tốt tài nguyên, đất đai, giữ nguyên địa hình, địa thế ở các vùng căn cứ địa cách mạng. Bởi việc bảo vệ các khu vực phòng thủ trọng yếu là vô cùng cần thiết. Những vùng đất này phải được nắm chắc các hoạt động chuyển nhượng quyền sử dụng đất; phải được phủ xanh, coi đó là những vùng dự trữ an toàn nhằm bảo đảm cho hoạt động của lực lượng vũ trang và toàn dân mang lại hiệu quả cao trong tuần tra, huấn luyện, diễn tập và thực thi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc với tất cả các kịch bản, tình huống, hoàn cảnh có thể xảy ra./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
- Nguyễn Công Bằng (2007), Tìm hiểu giá trị lịch sử và văn hóa Khánh Hòa, Sở Văn hóa Thông tin Khánh Hòa.
- Cục Thống kê Khánh Hòa, 2009, 2022
- Trần Bạch Đằng (1998), Vài suy nghĩ về Việt Nam học, (Nhiều tác giả, Lịch sử sự thật và Sử học, Tạp chí Xưa và Nay, NXB Hồng Đức, 2013)
- Đỗ Trường Giang (2008), Sự chuyển hóa từ thương cảng Chăm sang Việt (trường hợp Thi Nại - Nước Mặn), Nghiên cứu Đông Nam Á, số 8.
- Nguyễn Thị Kim Hoa (Cb-2017), Lịch sử giáo dục cách mạng tỉnh Khánh Hòa (1945-1975), Nxb Giáo dục.
- Li Tana (1999), Xứ Đàng Trong - Lịch sử kinh tế - xã hội Việt Nam thế kỷ XVII-XVIII, Nguyễn Nghị dịch, NXB Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh.
- Nguyễn Văn Khánh và các tác giả (2023), Địa chí Khánh Hòa, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam nhất thống chí, tập 3, Nxb Thuận Hóa.
- Hà Nguyễn (2013), Tiểu vùng văn hóa duyên hải Nam Trung Bộ: Khánh Hòa-Ninh Thuận-Bình Thuận, NXB Thông tin và Truyền thông.
- Tạp chí phát triển kinh tế-xã hội Đà Nẵng (2016), Biển đảo Việt Nam - Lịch sử, chủ quyền, kinh tế, văn hóa, NXB Văn hóa - Văn nghệ.
- Trịnh Thị Minh Trang, Nguyễn Thị Nguyệt Hà, Trần Đức Thạnh (2015), Tài nguyên, vị thế vùng bờ Khánh Hòa: Tiềm năng và triển vọng, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển, tập 15, số 1.
- Viện Lịch sử Đảng (1992), Nam Trung Bộ kháng chiến (1954-1975), Hà Nội.
- Việt Nam Cộng hòa (1962), Phúc trình đặc biệt của viên chỉ huy trưởng Trường Hạ sĩ quan quân đội Việt Nam Cộng hòa trình Tổng thống, số 0412/THSQ/P3/HQ ngày 10/11/1962, Trung tâm lưu trữ lịch sử Khánh Hòa.
- Việt Nam Cộng hòa (1962), Chiến dịch bình định tỉnh Khánh Hòa năm 1962, Vùng 2 chiến thuật-khu 23, Phòng Địa chí, Thư viện tỉnh Khánh Hòa.
- Tỉnh ủy Phú Khánh (1980), 50 năm hoạt động của Đảng bộ ĐCS Việt Nam tỉnh Phú Khánh, Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng Tỉnh ủy Phú Khánh.
* Hội Khoa học Lịch sử tỉnh Khánh Hòa.
**Trường Đại học Khánh Hòa.
[1] Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam nhất thống chí, tập 3, Nxb Thuận Hóa, tr.105-106.
[2]Việt Nam Cộng hòa (1962), Phúc trình đặc biệt của viên chỉ huy trưởng Trường Hạ sĩ quan quân đội Việt Nam Cộng hòa trình Tổng thống, số 0412/THSQ/P3/HQ ngày 10/11/1962, Trung tâm lưu trữ lịch sử Khánh Hòa.
[3]Tỉnh ủy Phú Khánh (1980), 50 năm hoạt động của Đảng bộ ĐCS Việt Nam tỉnh Phú Khánh, Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng Tỉnh ủy Phú Khánh, tr.8.
[4] Việt Nam Cộng hòa (1962), Chiến dịch bình định tỉnh Khánh Hòa năm 1962, Vùng 2 chiến thuật-khu 23, Phòng Địa chí, Thư viện tỉnh Khánh Hòa, tr.5 viết:“Tỉnh Khánh Hòa tiếp giáp ở 2 mặt với 5 vùng căn cứ quan trọng của các tỉnh lân cận như các căn cứ Chu In, Ea Châu (Đắc Lắc); Bác Ái, CK.22, CK 19 (Ninh Thuận); mỗi mặt có từ 2 đến 3 đại đội trú quân thường xuyên và nằm trong phạm vi hoạt động của D120 và Đại đội đặc công 121 chủ lực khu đóng căn cứ trong vùng Tô Hạp và giáp ranh Ninh Thuận.
[5]Trịnh Thị Minh Trang, Nguyễn Thị Nguyệt Hà, Trần Đức Thạnh (2015), Tài nguyên, vị thế vùng bờ Khánh Hòa: Tiềm năng và triển vọng, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển, tập 15, số 1, tr.22
[6]Trịnh Thị Minh Trang, Nguyễn Thị Nguyệt Hà, Trần Đức Thạnh (2015), Tài nguyên, vị thế vùng bờ Khánh Hòa: Tiềm năng và triển vọng, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển, tập 15, số 1, tr.17.
[7]Địa chí Khánh Hòa (2003), Sđd, tr. 20-21.
[8]Huỳnh Quốc Thắng (2004),Khánh Hòa - Vùng đất hội lưu văn hóa đặc trưng của phương Nam, Nghiên cứu Lịch sử, số 10, tr.32.
[9] Nguyễn Thị Kim Hoa (Cb-2017), Lịch sử giáo dục cách mạng tỉnh Khánh Hòa (1945-1975), Nxb Giáo dục, tr.29-32.
[10] Nguyễn Thị Kim Hoa, 2017, Sđd, tr.164.
[11] Cục Thống kê Khánh Hòa (2022), Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Khánh Hòa năm 2022, tr.30.
|