“CÁC VUA HÙNG ĐÃ CÓ CÔNG DỰNG NƯỚC - BÁC CHÁU TA PHẢI CÙNG NHAU GIỮ LẤY NƯỚC” - NGÀY GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG (MÙNG 10 THÁNG 3 ÂM LỊCH) *** KỶ NIỆM 51 NĂM GIẢI PHÓNG TỈNH KHÁNH HÒA (4/1975 - 4/2026) VÀ 51 NĂM NGÀY GIẢI PHÓNG MIỀN NAM, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC (30/4/1975 - 30/4/2026) *** 72 NĂM NGÀY CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ (07/5/1954 - 07/5/2026) *** 136 NĂM NGÀY SINH CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH (19/5/1890 - 19/5/2026) *** 120 NĂM NGÀY SINH ĐỒNG CHÍ HÀ HUY TẬP (24/4/1906 - 24/4/2026) *** 140 NĂM NGÀY QUỐC TẾ LAO ĐỘNG (01/5/1886 - 01/5/2026) *** 122 NĂM NGÀY SINH ĐỒNG CHÍ TRẦN PHÚ (01/5/1904 - 01/5/2026) *** 130 NĂM NGÀY SINH ĐỒNG CHÍ HỒ TÙNG MẬU (15/6/1896 15/6/2026) *** 156 NĂM NGÀY SINH V.I.LÊNIN (22/4/1870 - 22/4/2024) *** 208 NĂM NGÀY SINH C.MÁC (05/5/1818 - 05/5/2026)

Thứ Sáu, 25/09/2026 07:57
  14/12/2022 11:05        

Hội trí thức đề xuất giải pháp phát triển nghề nuôi biển công nghệ cao

Hội trí thức đề xuất giải pháp phát triển nghề nuôi biển công nghệ cao

Ngày 28/01/2022 Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 09-NQ/TW về Xây dựng, phát triển tỉnh Khánh Hòa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Nghị quyết 09-NQ/TW). Ngay sau đó, Tỉnh ủy Khánh Hòa ban hành Chương trình hành động số 30-CTr/TU để triển khai, thực hiện Nghị quyết 09-NQ/TW (Chương trình hành động 30-CTr/TU). Nghị quyết 09-NQ/TW và Chương trình hành động 30-CTr/TU xác định mục tiêu đến năm 2030 “Khánh Hoà là thành phố trực thuộc Trung ương trên cơ sở phát huy cao độ tiềm năng và lợi thế về biển, là đô thị thông minh, bền vững, bản sắc và kết nối quốc tế; là trung tâm dịch vụ, du lịch biển quốc tế; là một cực tăng trưởng, trung tâm của khu vực duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và cả nước về kinh tế biển, công nghiệp công nghệ cao, khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, đào tạo nguồn nhân lực và chăm sóc sức khoẻ chất lượng cao; là nơi Nhân dân có mức sống cao, hiền hoà và hạnh phúc; tổ chức đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; quốc phòng, an ninh và chủ quyền biển, đảo được bảo đảm vững chắc”. Trong phát triển bền vững kinh tế biển, Nghị quyết khẳng định “Nuôi trồng, khai thác, chế biến hải sản, nhất là nuôi biển công nghệ cao, thân thiện với môi trường” là nhiệm vụ, giải pháp quan trọng không thể thiếu.

Để phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật trong tham gia thực hiện nhiệm vụ, giải pháp này, tại Hội nghị Hiến kế phát triển nghề nuôi biển công nghệ cao thân thiện với môi trường ở vùng biển tỉnh Khánh Hòa, do Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh tổ chức và chủ trì đã quy tụ 30 cán bộ khoa học làm công tác lãnh đạo, quản lý chuyên ngành, chuyên gia, nhà khoa học, nhà sản xuất về lĩnh vực liên quan đã tham luận, thảo luận, bàn bạc và thống nhất xác định: Việc triển khai thực hiện Nghị quyết 09-NQ/TW và Chương trình hành động 30-CTr/TU về nuôi biển công nghệ cao thân thiện với môi trường ở vùng biển tỉnh Khánh Hòa là một trong những nhiệm vụ, giải pháp quan trọng để phát triển mạnh mẽ kinh tế biển, góp phần nâng cao nguồn lực thực hiện mục tiêu xây dựng và phát triển Khánh Hòa thành thành phố trực thuộc Trung ương, để Nhân dân có mức sống cao, góp phần bảo vệ an ninh, quốc phòng, bảo vệ chủ quyền biển đảo Tổ quốc.

Thực trạng nghề nuôi biển từ trước đến nay

Nghề nuôi biển truyền thống ở Khánh Hòa, từng phát huy được lợi thế bởi tỉnh có đường bờ biển dài, nhiều đảo gần bờ và xa bờ, góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế ở các vùng cư dân ven biển, đã thu được những kết quả đáng kể, có sự tăng trưởng về mặt sản lượng và giá trị sản xuất. Sản lượng thủy sản nuôi hàng năm của tỉnh đạt từ 16.000 – 18.000 tấn, góp phần nâng cao tỷ trọng giá trị sản xuất ngành thủy sản. Trong đó, nghề nuôi biển chiếm khoảng 50% tổng sản lượng thủy sản nuôi toàn tỉnh, đồng thời giải quyết việc làm, cải thiện đời sống Nhân dân, góp phần phát triển kinh tế xã hội trong tỉnh và bảo đảm an ninh, bảo vệ chủ quyền biển của đất nước.

Tuy nhiên các vùng nuôi lồng bè hiện nay chủ yếu gần bờ, ven đảo nằm trong các đầm, vịnh và quy mô nhỏ; công nghệ lạc hậu, chưa thích ứng với biến đổi khí hậu; nhiều lồng nuôi có vật liệu tre, gỗ, không chịu được sóng to, gió lớn. Một số vùng nuôi nằm chồng lấn với các quy hoạch khác của tỉnh, nên tổng diện tích nuôi trồng thủy sản trên biển suy giảm đáng kể; nhiều vùng nước khu vực nuôi có dấu hiệu ô nhiễm, ảnh hưởng môi trường biển, đến đời sống của người dân.

Trong khi đó tới tháng 6 năm 2022, nuôi biển công nghệ cao, xa bờ, ứng dụng công nghệ nuôi hiện đại (lồng nhựa HDPE), để nuôi cá biển cho sản lượng lớn, mới chỉ có 1 Trung tâm, 2 Công ty. Trung tâm Nuôi biển công nghệ cao thuộc Viện nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản I, có 42 lồng nhựa, chủ yếu nuôi cá chim vây vàng. Công ty TNHH Thủy sản Australis Việt Nam (100% vốn nước ngoài) với diện tích nuôi cá chẽm xa bờ 200 ha, có 46 lồng nhựa, đã đầu tư hệ thống hiện đại, ứng dụng công nghệ nuôi tiên tiến, tạo chuỗi giá trị khép kín từ sản xuất con gống nhân tạo đến công đoạn thu hoạch. Công ty Cổ phần Nuôi trồng thủy sản Phương Minh có 11 lồng, trong đó 6 lồng tròn và 5 lồng vuông, đã thu sản lượng 150 tấn/năm. Trước thực trạng này, để nâng cao năng lực nuôi biển công nghệ cao, Hội nghị đề xuất giải pháp:

10 giải pháp nâng cao năng lực nuôi biển công nghệ cao thân thiện môi trường

1. Cần khẩn trương có Quy hoạch nuôi biển công nghệ cao, xác định vùng nuôi, diện tích nuôi, loại hải sản nuôi có giá trị kinh tế cao, trên cơ sở đó quảng bá, gọi đầu tư của các thành phần kinh tế, các đơn vị trong tỉnh, trong nước và nước ngoài.

Khi quy hoạch nuôi biển công nghệ cao cần phối hợp với các cơ quan chuyên ngành liên quan (như Viện Hải dương học Nha Trang, Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Nam Trung Bộ, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh...) trong việc xác định dòng chảy, thủy triều, thời tiết, khí hậu, môi trường vùng nuôi và các yếu tố cần quan tâm.

2. Sớm hoàn thành việc xây dựng Đề án nuôi biển công nghệ cao của Khánh Hòa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

3. Áp dụng công nghệ nuôi tiên tiến, tạo chuỗi giá trị khép kín từ sản xuất con gống nhân tạo, công đoạn thu hoạch, bảo quản, bao bì, đến địa chỉ tiêu thụ sản phẩm trong nước hoặc xuất khẩu. Áp dụng phương thức nuôi đa loài tích hợp IMTA (cá, nhuyễn thể, rong biển ) và tích hợp đa ngành (nuôi biển và du lịch, nuôi biển và an ninh – quốc phòng).

4. Sớm có chính sách, cơ chế tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút đầu tư trong tỉnh, trong nước và ngoài nước.

5. Đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, hiện đại phục vụ nuôi biển xa bờ như hệ thống quan trắc môi trường nuôi biển tự động, hình thành các đội tàu dịch vụ hậu cần phục vụ nuôi biển xa bờ đa chức năng như vận chuyển giống, thức ăn, sơ chế, bảo quản sản phẩm sau thu hoạch, cẩu lồng, cẩu lưới…

6. Có giải pháp cụ thể để bảo vệ môi trường biển như: quy định về xử lý rác thải, nước thải; có khu đất trên bờ để xử lý rác thải, nghiêm cấm việc xả thải trực tiếp xuống biển.

7. Có giải pháp về nhân lực bao gồm đào tạo cán bộ kỹ thuật, bồi dưỡng, chuyển giao công nghệ hướng dẫn kỹ năng cho các hộ nông dân, người lao động làm nghề nuôi biển công nghệ cao.

8. Nuôi biển công nghệ cao cẩn có nguồn vốn lớn, công nghệ hiện đại và đầu ra của sản phẩm, vì vậy cần gắn với hoạt động ngoại giao, kêu gọi đầu tư, liên kết kinh doanh của Lãnh đạo tỉnh, với hoạt động của cơ quan làm nhiệm vụ xúc tiến đầu tư của tỉnh. Đây là giải pháp quan trọng trong phát triển nuôi biển công nghệ cao.

9. Có chính sách hỗ trợ, hướng dẫn việc tiếp cận vay vốn, nâng mức được vay vốn cho các hộ nông dân đầu tư làm nghề nuôi biển công nghệ cao.

10. Chú trọng giải pháp phòng chống dịch bệnh trong quá trình nuôi biển công nghệ cao. Vì nếu phòng bệnh không tốt, khi bị dịch bệnh thì tổn thất của nhà đầu tư sẽ không nhỏ.

                                            Hồng Tiến

         

 

 

 

 

 

Thông báo

Liên kết web

Trực tuyến
Hiện có: 36   Khách